KHÁM KHỚP VAI. PHẦN 2: CÁC NGHIỆM PHÁP ĐẶC BIỆT

Cập nhật lần cuối vào 21/11/2022

Phức hợp vai có cấu trúc phức tạp, nhiều thành phần, dễ bị tổn thương và do đó có nhiều tác giả đã phát hiện, đưa ra các nghiệm pháp đặc biệt nhằm xác định chính xác cấu trúc bị ảnh hưởng.

Trong thực hành lâm sàng trước một bệnh nhân đau vai thông thường, có thể chỉ cần thực hiện các nghiệm pháp phát hiện sự đụng chạm (impingement) dưới mỏm cùng vai, một số nghiệm pháp xác định gân cơ tổn thương thường gặp (như cơ trên gai, đầu dài cơ nhị đầu) và đánh giá tổn thương khớp cùng vai-đòn.

Ngoài ra, bài viết còn mô tả thêm một số nghiệm pháp đặc biệt khác có tính chất tham khảo, dành cho thăm khám nâng cao.

Xem lại: Khám khớp Vai. Phần 1: Các bước cơ bản
Xem thêm: GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG PHỨC HỢP VAI. CƠ VÀ HOẠT ĐỘNG CƠ

Mục lục

CÁC NGHIỆM PHÁP PHÁT HIỆN SỰ ĐỤNG CHẠM

Các nghiệm pháp đụng chạm dương tính do gây nên sự chạm giữa gân cơ chóp xoay (CCX) với mặt dưới của cung quạ-mỏm cùng vai và gây đau. Ba nghiệm pháp thường dùng là:

Test đụng chạm Neer: 

  • Người khám đứng phía sau người bệnh, một tay giữ đầu trên xương bả vai cố định, tay kia gập, khép vai thụ động ở tư thế xoay trong.
  • Test dương tính khi đau do mấu động lớn đụng chạm vào mỏm cùng vai (giữa 70-110°), chứng tỏ sự đụng chạm của gân cơ chụp xoay/ túi thanh dịch với cung quạ mỏm cùng vai
  • Test này cũng có thể dương tính trong trường hợp thoái hoá khớp, mất vững, các tổn thương xương.
Nghiệm pháp đụng chạm Neer

Test Hawkins-Kennedy: 

  • Người khám thực hiện bằng cách gấp vai thụ động đến 90°, gấp khuỷu 90°, và ép xoay trong làm cho mấu động lớn di chuyển đến dưới dây chằng quạ mỏm cùng vai.
  • Dương tính khi đau vai.
Test Hawkins-Kennedy

Test Yocum

  • Nghiệm pháp này là một biến thể của test Hawkins- Kennedy. Người khám đứng phía sau người bệnh, đặt bàn tay bệnh nhân lên vai đối bên, sau đó bảo người bệnh nâng khuỷu tay lên trên chống lại sức cản của người khám.
  • Dương tính khi bệnh nhân đau.  
Test Yocum

CÁC NGHIỆM PHÁP XÁC ĐỊNH GÂN CƠ TỔN THƯƠNG

Áp dụng co cơ đẳng trường có kháng từng cơ chóp xoay, có thể xác định vị trí gân bị tổn thương. Các nghiệm pháp này dương tính khi thử nghiệm gây đau hoặc yếu cơ. Sau đây là các nghiệm pháp thường dùng: 

Test cơ trên gai (Supraspinatus Tests)

Nghiệm pháp Jobe/ cốc rỗng (empty can test)

  • Vai được đặt ở tư thế dạng 90° và đưa ra trước 30° trong mặt phẳng xương bả vai và xoay trong (ngón cái hướng xuống dưới như đổ cốc nước). Sau đó đẩy tay bệnh nhân xuống trong khi bệnh nhân cố gắng giữ tư thế kháng lại lực cản của người khám.
  • Dương tính khi đau hoặc yếu.
Nghiệm pháp Jobe đánh giá gân Cơ trên gai 

Nghiệm pháp cánh tay rơi (Drop arm Sign)

  • Người khám đưa cánh tay duỗi thẳng của bệnh nhân lên dạng một góc 90 độ, yêu cầu bệnh nhân giữ và từ từ hạ tay xuống.
  • Không thể giữ tư thế hoặc rơi đột ngột chứng tỏ tổn thương cơ trên gai.
test drop arm
Nghiệm pháp cánh tay rơi

Cơ dưới vai (Subscapularis)

Đánh giá sức mạnh cơ dưới vai

Không thể đánh giá cơ lực xoay trong với tay dọc thân do sự phối hợp của cơ ngực lớn (pectoralis major) và cơ lưng rộng (latissimus dorsi).

Lift Off Test 

  • Bệnh nhân đặt bàn tay sau lưng. lòng bàn tay hướng ra ngoài; đánh giá khả năng bệnh nhân nâng bàn tay ra hở ra khỏi lưng (xoay trong).
  • Không thực hiện được chứng tỏ bệnh lý cơ dưới vai. 
  • Dễ lẫn với các cơ khác, chính xác hơn nếu bàn tay được thử có thể đưa đến xương bả vai đối diện.
  • Chính xác hơn cho phần dưới của cơ dưới vai.

Test ép bụng (Belly Press)

  • Bệnh nhân ép bụng với gan bàn tay, giữ vai ở tư thế xoay trong. Nếu khuỷu tay đưa ra sau lưng (không giữ ở phía trước thân).
  • Test dương tính cho yếu cơ dưới vai.
  • Chính xác hơn cho phần trên của cơ dưới vai.

Test Bear Hug/ôm gấu

Bệnh nhân đặt lòng bàn tay cùng bên lên cơ delta tay kia và kháng lại người khám kéo tay ra trước. Dương tính khi yếu hơn bên kia ít nhất 20% 

Cơ dưới gai (Infraspinatus)

Đánh giá sức mạnh cơ dưới gai

  • Bệnh nhân đặt tay dọc thân, khuỷu 90 độ, cánh tay ở tư thế xoay trong 45 độ. Người khám đánh giá lực xoay ngoài có kháng. 

Dấu hiệu trễ xoay ngoài (External Rotation Lag Sign)

  • Người khám gấp khuỷu 90 độ và đưa tay bệnh nhân dạng và xoay ngoài tối đa. Yêu cầu bệnh nhân giữ tư thế xoay ngoài.
  • Nếu cánh tay bật sang xoay trong, test dương tính.

Cơ tròn bé (Teres Minor)

Đánh giá lực cơ tròn bé

Đánh giá xoay ngoài với cánh tay được giữ ở tư thế dạng 90 độ.

Dấu hiệu người thổi kèn (Hornblower’s sign)/Patte test

  • Bệnh nhân ngồi hoặc đứng. Đặt vai ở tư thế dạng 90 độ và nâng đỡ cánh tay trong mặt phẳng xương bả vai. Yêu cầu bệnh nhân gấp khuỷu tay 90 độ. Sau đó bệnh nhân cố gắng xoay ngoài có kháng.
  • Dương tính nếu bệnh nhân không thể giữ tư thế xoay ngoài và tay quay trở lại tư thế trung tính.
  • Một cách khác là yêu cầu bệnh nhân đưa hai bàn tay lên miệng, như đang thổi kèn.
  • Test dương tính nếu bệnh nhân phải khép tay không giữ tư thế dạng tay được.
Hornblower’s sign

Đầu dài gân cơ nhị đầu.

Đau khi ấn vào rãnh nhị đầu

Do tình trạng viêm của đầu dài gân cơ nhị đầu và các cấu trúc xung quanh.

Nghiệm pháp lòng bàn tay lật ngửa (palm up)/Speed test: 

  • Vai gập 90°, khuỷu duỗi và cẳng tay quay ngửa, lòng bàn tay hướng lên trên. Người bệnh làm động tác gập vai kháng lại lực cản của người khám.
  • Dương tính khi đau ở rãnh nhị đầu hoặc yếu.
Speed test

Test Yergason

  • Là test đánh giá đầu dài gân cơ nhị đầu và sụn viền.
  • Bệnh nhân đặt cánh tay dọc thân, gấp khuỷu 90 độ với cẳng tay quay sấp. Người khám đứng cạnh bệnh nhân, một tay cầm bàn tay/cổ tay bệnh nhân để giữ tư thế quay sấp, tay kia sờ vào rãnh nhị đầu. Yêu cầu bệnh nhân xoay ngửa cẳng tay, xoay ngoài xương cánh tay và gấp khuỷu chống lại kháng trở của người khám.
  • Test dương tính khi đau trong rãnh nhị đầu hoặc không vững (gân cơ có thể trật khỏi rãnh, sờ thấy), hoặc đau phần trên khớp ổ chảo cánh tay chứng tỏ rách sụn viền trên (SLAP tear).

CÁC NGHIỆM PHÁP KHỚP CÙNG VAI- ĐÒN

Test gập -khép cánh tay (Cross-Flexion Test)

  • Đưa tay bệnh nhân gập ra trước 90 độ và khép cánh tay chéo qua thân mình.
  • Dương tính khi đau trong khớp cùng vai- đòn

CÁC NGHIỆM PHÁP ĐÁNH GIÁ KHÔNG VỮNG KHỚP Ổ CHẢO- CÁNH TAY VÀ TỔN THƯƠNG SỤN VIỀN

Các test tổn thương sụn viền và tổn thương SLAP (sụn viền trên trước- sau)

Test  Obrien (Ép chủ động) /Active Compression test 

  • Bệnh nhân gấp tay phía trước 90 độ với khuỷu tay duỗi thẳng. Sau đó khép cánh tay 10-15 độ vào trong. Sau đó bệnh nhân quay sấp cẳng tay sao cho ngón cái chỉ xuống sàn. Người khám lực đẩy xuống cổ tay bệnh nhân trong khi bệnh nhân kháng lại.  Sau đó bệnh nhân quay ngửa cẳng tay sao cho lòng bàn tay hướng lên và người khám lại áp dụng lực lên cổ tay trong khi bệnh nhân kháng lại.
  • Dương tính cho rách SLAP  có đau “sâu” bên trong khớp ổ chảo- cánh tay trong khi cẳng tay quay sấp nhưng không đau khi cẳng tay quay ngửa.

Crank Test

  • Đánh giá tổn thương sụn viền
  • Giữ cánh tay bệnh nhân ở tư thế dạng và áp dụng lực xoay và ép thụ động.
  • Dương tính khi có tiếng click hoặc đau trong khớp ổ chảo- cánh tay

Test đánh giá sự mất vững (Instability)

Có nhiều test đánh giá mất vững trước, sau hoặc đa hướng, thường sử dụng kỹ thuật trượt (như ngăn kéo) hoặc đẩy ép ra phía mất vững và đánh giá độ di lệch (so với bên đối diện) hoặc cảm giác mất vững của bệnh nhân.

Test thường được đánh giá là:

Test sợ và chỉnh trật (Apprehension and Relocation test)

  • Đánh giá sự mất vững phía trước.
  • Bệnh nhân nằm ngửa. Thực hiện test sợ bằng cách đưa cánh tay dạng 90 độ và xoay ngoài tối đa. 
  • Dương tính nếu bệnh nhân có cảm giác mất vững (trật khớp) ra trước.

Test chỉnh trật được thực hiện bằng cách đặt bàn tay người khám lên đầu trên xương cánh tay và đẩy ra sau. bệnh nhân cảm nhận sự chỉnh trật hoặc mất cảm giác mất vững.

Test sulcus (Sulcus Sign)

  • Đánh giá mất vững đa hướng (Multidirectional Instability (MDI)
  • Bệnh nhân đứng thư giãn với cánh tay dọc thân mình. Nắm lấy cánh tay và kéo xuống dưới.
  • Nếu có một dấu hiệu rãnh ở dưới mỏm cùng vai- đầu trên xương cánh tay thì test dương tính.
Sulcus Sign

Đánh giá mức độ Sulcus 

  • 1+:  khoảng dưới mỏm cùng vai < 1cm
  • 2+ : khoảng dưới mỏm cùng vai  1-2 cm
  • 3+: khoảng dưới mỏm cùng vai  > 2cm

TEST KHỚP BẢ VAI- LỒNG NGỰC

Test đẩy tường (Wall Push-up Test)

  • Bệnh nhân ở tư thế đứng, yêu cầu bệnh nhân gập vai ra trước 90 độ và đẩy chống lại một bức tường, lập lại 10-20 lần. 
  • Test dương tính nếu yếu các cơ bả vai hoặc lệch hở (winging) xương bả vai.
  • Lệch bả vai vào trong (Medial Scapular Winging): yếu cơ răng trước hoặc tổn thương dây thần kinh ngực dài. 
  • Lệch bả vai ra ngoài (Lateral Scapular Winging): yếu cơ thang hoặc dây thần kinh phụ gai sống (XI) 
Wall Push-up Test

TEST HỘI CHỨNG LỐI RA NGỰC

Các xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán hội chứng lối ra lồng ngực cố gắng làm hẹp lối ra ngực và tạo lại các triệu chứng hoặc dấu hiệu đè ép mạch máu- thần kinh (tê, giật, đau,  sờ thấy mất mạch quay).

Wright’s Test

  • Xoay ngoài và dạng cánh tay bệnh nhân thụ động trong khi yêu cầu bệnh nhân nghiêng đầu qua bên đối diện, hít sâu và nín thở.
  • Dương tính nếu bệnh nhân mất mạch quay.

Test Adson

  • Tương tự, bệnh nhân quay mặt nhìn sang vai đang được đánh giá. Sau đó, yêu cầu bệnh nhân duỗi đầu ra sau trong khi người khám xoay ngoài và duỗi tay bệnh nhân. Yêu cầu bệnh nhân hít sâu và nín thở (Valsalva). 
  • Dương tính khi mất mạch (do  cơ bậc thang (scalene) trước bị kéo căng và kéo xương sườn thứ nhất lên trên, làm hẹp lối ra ngực).

XEM THÊM:

👋 Chào bạn!

Hãy nhập địa chỉ email của bạn để đăng ký theo dõi blog này và nhận thông báo về các bài mới qua email mỗi tuần.

MinhdatRehab

Gởi bình luận

Bạn không thể sao chép nội dung ở trang này