Vận động trị liệu (VĐTL) là thực hiện các vận động, các tư thế hoặc các hoạt động thể lực của cơ thể một cách có hệ thống và kế hoạch nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng.
Kích thích vận động là một trong những kích thích quan trọng, đảm bảo sự phát sinh, phát triển, tồn tại của cơ thể. Nó có ảnh hưởng đến mọi cơ quan, bộ phận, quá trình sinh học trong cơ thể.
Vận động trị liệu thường có cường độ thấp hơn và thời gian ngắn hơn các bài tập dành cho người khỏe mạnh. Quá trình tập luyện có thể chỉ kéo dài một vài ngày hoặc hàng tháng trời phụ thuộc vào tình trạng người bệnh. Khi tình trạng người bệnh thay đổi, chương trình tập luyện phải thay đổi theo để phù hợp với tiến triển của họ.
VĐTL là phương pháp điều trị quan trọng của PHCN hiện đại. Y học cổ truyền nước ta cũng đã ứng dụng rất sớm các loại vận động thư giãn, vận động để điều trị, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho bệnh nhân.
Muốn áp dụng tốt VĐTL cần phải nắm vững các kiến thức về giải phẫu, sinh lý bệnh học.
Những mục đích chính của vận động trị liệu là:
Có nhiều loại bài tập VĐTL tùy theo mục đích điều trị: tập theo tầm vận động khớp, tập kháng trở, tập aerobic, kéo dãn, vận động khớp ngoại biên và tập trong nước, tập vận động chức năng và các bài tập cho các chuyên khoa (sản phụ khoa, lồng ngực, tim mạch…). Bài giảng chỉ đề cập đến một số loại bài tập chính thường sử dụng trên lâm sàng.
Tầm vận động (TVĐ) là tầm độ một khớp vận động trong không gian. Tầm vận động tùy thuộc vào khả năng vận động của khớp và tính kéo dãn của mô mềm.
Các bài tập TVĐ là các bài tập thực hiện hết tầm vận động của khớp (gấp, duỗi, dạng, khép, xoay…) nhằm mục đích duy trì tầm vận động khớp, phòng ngừa các biến chứng của bất động và tạo thuận cảm giác bản thể, giảm nguy cơ chấn thương.
Có ba loại tập theo tầm vận động được xắp xếp theo trình tự tăng tiến: TVĐ thụ động, TVĐ chủ động có trợ giúp và TVĐ chủ động.
Xem video: Tập tầm vận động khớp cho chi trên và chi dưới
Các loại bài tập kháng trở: có ba loại bài tập kháng trở: bài tập đẳng trường, bài tập đẳng trương và bài tập đẳng động.
Là bài tập trong đó co cơ không tạo nên chuyển động ở khớp, gắng sức chống lại một vật không di chuyển, hoặc giữ một vật ở tư thế tĩnh.
Thường được chỉ định trong trường hợp cần hạn chế vận động khớp do bệnh lý/sau phẫu thuật hoặc để làm mạnh các cơ bảo vệ khớp (viêm khớp).
Ví dụ: tập gồng cơ tứ đầu sau phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo
Các ích lợi của bài tập đẳng trường là:
Bất lợi của các bài tập đẳng trường gồm:
Ngược với co cơ đẳng trường, co cơ đẳng trương tạo nên vận động khớp. Có hai loại bài tập đẳng trương: bài tập đồng tâm và bài tập ly tâm (hình 4).
Co cơ đồng tâm là co cơ làm ngắn cơ sử dụng kháng trở không đổi với tốc độ co thay đổi. Kháng trở cố định có thể là trọng lượng của chi, tác dụng của trọng lượng lên phần chi thể, kháng trở bằng tay của người tập hay dụng cụ như tạ…
Các thuận lợi của bài tập co cơ đồng tâm là:
Các bất lợi của bài tập đồng tâm là:
Ngược với bài tập đồng tâm, bài tập ly tâm sử dụng co cơ trong đó cơ bị kéo dài ra. Tốc độ bài tập thay đổi, nhưng kháng trở cố định.
Những thuận lợi của bài tập ly tâm:
Bất lợi của loại bài tập này là nó dễ gây đau cơ kéo dài.
Là dạng bài tập đòi hỏi dụng cụ giới hạn tốc độ phần cơ thể được tập. Thuật ngữ đẳng động hàm ý vận động xảy ra với một tốc độ không đổi. Trong những bài tập này, tốc độ vận động không đổi nhưng kháng trở với vận động thay đổi do đó cơ chịu lực tải tối đa qua toàn bộ TVĐ. Dụng cụ tập đẳng động thường lớn, phức tạp, đắt tiền và do đó chỉ được sử dụng ở những trung tâm PHCN lớn.
Xem thêm Tập tăng cường sức mạnh và sức bền
Kéo dãn bằng tay.
Xem thêm Tập phục hồi tầm vận động và mềm dẻo…
Ví dụ: Tự kéo dãn cơ hamstring
Sức bền nghĩa là số lần một cơ có thể co ở mức tối đa trước khi bị mỏi mệt. Có hai loại sức bền, sức bền cơ và sức bền chung toàn bộ cơ thể. Sức bền cơ là khả năng cơ co và tạo nên sức căng trong một thời gian kéo dài. Sức bền chung do tập luyện sức khỏe tim phổi cho phép cơ thể cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng đến các cơ và cho phép cơ hoạt động lập lại trong một thời gian dài.
Những bài tập sức bền tim phổi là các bài tập cường độ thấp, lập lại nhiều lần ở các nhóm cơ lớn. Những bài tập này gia tăng khả năng bệnh nhân thực hiện các hoạt động hàng ngày và chịu đựng các hoạt động kéo dài, như đi bộ, leo cầu thang.
Dạng bài tập sức bền tim mạch thường sử dụng là tập nhịp điệu (aerobic). Bài tập aerobic bao gồm tập mạnh cơ và sức bền tim mạch. Sử dụng nguyên lý quá tải, các nhóm cơ lớn (tay và chân) được tập theo nhịp điệu và liên tục để tăng dần sự tiêu thụ oxy. Các bài tập aerobic có thể bao gồm đạp xe, đi, bơi, bài tập dưới nước. Tất cả các bài tập aerobic cần phải có kiểm soát và tăng dần, có các giai đoạn khởi động và làm nguội. Cường độ tập aerobic được đo bởi nhịp tim hoặc mức gắng sức mà người tập cảm nhận.
Các ích lợi của bài tập aerobic trong một chương trình VĐTL gồm:
Cường độ tập luyện của tập sức bền tốt nhất là dựa vào nhịp tim đích. Một nhịp tim từ 60% đến 85% nhịp tim tối đa được xem như là tối ưu để rèn luyện. Nếu không thực hiện thử nghiệm gắng sức, có thể tính nhịp tim tối đa bằng công thức:
Nhịp tim tối đa = 220 – tuổi của người bệnh.
Ví dụ: bệnh nhân 40 tuổi. Nhịp tim tối đa = 220-40= 180
Nhịp tim đích: vd 70%x180 = 126 nhịp/phút.
Cách tính phạm vi nhịp tim đích, dựa vào tuổi và nhịp tim lúc nghỉ:
Những người khỏe mạnh không cần theo dõi nhịp tim. Thay vì vậy, họ có thể điều chỉnh cường độ gắng sức đến nhịp có thể nói được: trong lúc đang làm việc nặng nhưng vẫn có thể nói với người bạn mà không có cảm giác khó thở.
Tập luyện chức năng và tập luyện chuyên biệt là các thuật ngữ được sử dụng để mô tả một chương trình VĐTL được thiết kế để cải thiện một chức năng hoặc kỹ năng chuyên biệt. Mặc dù bệnh nhân gia tăng sức mạnh, công, sức bền trong một chương trình tập luyện, những yếu tố này có thể không nhất thiết cải thiện khả năng hoạt động của chức năng, công việc hoặc thể thao mà người đó mong muốn. Do đó, cần phải thiết kế một chương trình tập luyện chuyên biệt bao gồm sử dụng lập lại một phần hoặc toàn bộ các vận động phù hợp với hoạt động mong muốn của người bệnh. Tập luyện không phù hợp có thể làm bệnh nhân bị tái chấn thương hoặc chấn thương thêm.
Tập phục hồi và phát triển trở lại tư duy, sự khéo léo của bàn tay và tập cho người bệnh tự chăm sóc, sử dụng lại các dụng cụ tay chân giả, dụng cụ chỉnh hình, hoặc dụng cụ trợ giúp nhằm đạt sự độc lập tối đa của người bệnh.
Các hoạt động chuyên biệt theo nghề nghiệp hoặc thể thao được đưa vào các giai đoạn sau của quá trình PHCN. Các hoạt động bao gồm các bài tập nhỏ giống các vận động hoặc kỹ thuật của nghề nghiệp/môn thể thao mong muốn của người bệnh để dần dần người bệnh tham gia trở lại nghề nghiệp/môn thể thao mà mình ưa thích.
MinhdatRehab, bài giảng cho sinh viên Y khoa.
Rối loạn giấc ngủ không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối hay thiếu…
Trong thực hành vật lý trị liệu, chúng ta thường nhận thấy một nghịch lý…
Đau mạn tính không chỉ nằm ở chỗ tổn thương. Đó là trải nghiệm phức…
Giới thiệu S-Knee, ứng dụng theo dõi chức năng khớp gối tự lượng giá
Về cơ bản, khớp vai của bạn giống như một quả bóng golf đặt trên…
3 bước cơ bản: Nhìn, Sờ, Vận động Đo lường và các Nghiệm pháp đặc…