Để đưa ra một chương trình phục hồi chức năng có tính thực tiễn, cần hiểu được diễn tiến tự nhiên của sự hồi phục thần kinh và chức năng của người bệnh.
Bệnh nhân hồi phục sau khi bị đột quỵ theo 2 cách khác nhau, nhưng có liên quan với nhau.
Việc giảm mức độ khiếm khuyết thần kinh có thể do phục hồi thần kinh tự nhiên, tự phát (thông qua các phương pháp điều trị nhằm hạn chế mức độ của đột quỵ) hoặc do các can thiệp khác nhằm tăng cường chức năng thần kinh. Một bệnh nhân thể hiện hình thức phục hồi này biểu hiện với những cải thiện trong kiểm soát vận động, khả năng ngôn ngữ, hoặc các chức năng thần kinh khác.
Loại phục hồi thứ hai là cải thiện khả năng thực hiện chức năng hàng ngày dù những hạn chế của các khiếm khuyết về thể chất của họ. Một bệnh nhân bị thiếu hụt về vận động cảm giác, nhận thức, hay hành vi do đột quỵ có thể lấy lại năng lực để thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ADL), chẳng hạn như tự ăn uống, mặc quần áo, tắm rửa, và đi vệ sinh, thông qua rèn luyện và thích ứng.
Liệt nửa người sau đột quỵ thường do tổn thương nhánh chính của động mạch não giữa, phục hồi theo hướng từ gốc đến ngọn. Các chi ban đầu liệt mềm sau đó chuyển sang co cứng thành những mẫu đồng vận.
Sự phục hồi chi dưới nói chung thường tốt hơn chi trên vì chi trên đòi hỏi kiểm soát vận động phức tạp hơn và chức năng lên hệ nhiều đến bàn tay (thường hồi phục muộn hơn).
Signe Brunnstrom đã quan sát các thay đổi của trương lực cơ và sự phục hồi vận động theo thời gian ở bệnh nhân TBMMN và chia các giai đoạn phục hồi vận động như sau.
Bảng sau mô tả các thành phần của các mẫu đồng vận theo Brunnstrom.
| Đồng vận gấp | Đồng vận duỗi | |
| Chi trên | Bả vai kéo ra sau và/hoặc lên trên; Khớp vai dạng, xoay ngoài; khuỷu gấp; cẳng tay quay ngữa; cổ tay và các ngón gấp | Bả vai kéo ra trước, khớp vai xoay trong, khép, khuỷu duỗi, cẳng tay quay sấp, cổ tay duỗi với các ngón gấp |
| Chi dưới | Khớp háng gấp, dạng và xoay ngoài; gối gấp đến 900, cổ chân gập mu, vẹo ngoài, ngón chân duỗi | Háng duỗi, khép, và xoay trong; gối duỗi; cổ chân gập lòng, vẹo trong, các ngón gấp |
Điển hình, người bệnh ở giai đoạn III sẽ có mẫu co cứng như sau:
Đầu: đầu nghiêng về bên liệt, mặt quay sang bên lành.
Tay liệt: co cứng gập:
Thân mình bên liệt: co ngắn và kéo dài ra sau.
Chân liệt: co cứng duỗi:
Nghiên cứu cho thấy cơ kiểm soát lực bóp và cổ tay và các cơ gấp ngón là các nhóm cơ bị ảnh hưởng nhiều nhất sau đột quỵ (trước đây, các nhà nghiên cứu tin rằng các cơ duỗi chi trên và cơ gập chi dưới là các cơ yếu nhất). Trên thực tế, các cơ duỗi khuỷu và dạng khép vai là các cơ ít bị nặng. Một điểm cần chú ý là TBMN không chỉ ảnh hưởng chỉ một bên của cơ thể. Các cơ bên không bị cũng yếu nhẹ sau tổn thương (Craik,1991).
Nhồi máu vùng trán và thái dương có thể dẫn đến khiếm khuyết giao tiếp. Khoảng 30% bệnh nhân đột quỵ có giảm chức năng ngôn ngữ. Thất ngôn là rối loạn giao tiếp mắc phải do tổn thương não và đặc trưng bởi khiếm khuyết hiểu, biểu đạt bằng lời, và sử dụng biểu tượng để giao tiếp (Roth and Harvey, 1996). Có nhiều loại thất ngôn: Thất ngôn Broca (diễn đạt), thất ngôn Wernicke (tiếp nhận), thất ngôn toàn thể… Bệnh nhân thất ngôn diễn đạt khó nói, họ biết điều mình muốn nói nhưng không thể tạo các từ để giao tiếp ý nghĩ của mình. Bệnh nhân thất ngôn diễn đạt thường trở nên bối rối khi họ không nói được ý muốn của mình. Bệnh nhân thất ngôn tiếp nhận không hiểu từ được nói, và có thể hiểu nhầm ý người khác. Bệnh nhân thất ngôn toàn thể khó diện đạt và hiểu ngôn ngữ. thường thì họ cũng khó hiểu các điệu bộ làm cho giao tiếp cực kỳ khó khăn.
Trong các bệnh nhân vẫn còn thất ngôn sau 1 tháng, 33-55% vẫn bị thất ngôn sau 6 tháng và 25% sau 1 năm đột quỵ. Thất ngôn toàn thể có tiên lượng xấu nhất, theo sau là thất ngôn Broca và thất ngôn Wernicke. Phục hồi hoàn toàn thường thấy ở thất ngôn dẫn truyền, xuyên vỏ. Nói chung, sự phục hồi ngôn ngữ thường chậm và kéo dài hơn sự phục hồi vận động.
…
Nhiều bệnh nhân sống sót sau TBMN vẫn bị giảm chức năng thần kinh kéo dài và không thể phục hồi các chức năng và vai trò xã hội như trước. Phục hồi đáng kể nhất về chức năng thần kinh xảy ra trong ba tháng đầu sau tổn thương, mặc dù các mẫu vẫn động có thể được cải thiện bởi các hoạt động hướng đến chức năng đến 2-3 năm sau khi tổn thương ban đầu. Các số liệu thống kê ước tính rằng khoảng 10% bệnh nhân TBMN phục hồi gần như hoàn toàn, 25% có khiếm khuyết nhẹ, 40% khiếm khuyết vừa đến nặng đòi hỏi chăm sóc đặc biệt, 10% đòi hỏi đặt trong một cơ sở chăm sóc mở rộng, và 15% chết trong thời gian ngắn sau tai biến (US National Stroke Association, 2004).
Các dữ liệu thu được từ FIM (Functional Independence Measure) cho thấy rằng các bệnh nhân được PHCN khoảng 28 ngày sau đột quỵ có cải thiện tốt nhất trong các lĩnh vực đi lại, di chuyển, tự chăm sóc và kiểm soát cơ tròn. Sự cải thiện ít rõ rệt hơn ở các lĩnh vực như giao tiếp và các kỹ năng xã hội (Granger và Hamilton, 1994).
Rối loạn giấc ngủ không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối hay thiếu…
Trong thực hành vật lý trị liệu, chúng ta thường nhận thấy một nghịch lý…
Đau mạn tính không chỉ nằm ở chỗ tổn thương. Đó là trải nghiệm phức…
Giới thiệu S-Knee, ứng dụng theo dõi chức năng khớp gối tự lượng giá
Về cơ bản, khớp vai của bạn giống như một quả bóng golf đặt trên…
3 bước cơ bản: Nhìn, Sờ, Vận động Đo lường và các Nghiệm pháp đặc…