XEM THÊM: LOẠN SẢN KHỚP HÁNG Ở TRẺ SƠ SINH
Loạn sản khớp háng là vấn đề chỉnh hình thường gặp thứ hai ở trẻ bại não (chỉ sau bàn chân ngựa). Tỉ lệ chung di lệch khớp háng ở trẻ bại não được ước tính là khoảng 35%.
Di lệch khớp háng có liên quan trực tiếp đến mức GMFCS trong đó trẻ ở mức GMFCS IV và V có nguy cơ cao nhất (GMFCS III là 40%, IV là 69% và V là 90%, xem hình vẽ). Nguy cơ bán trật/trật khớp háng ở GMFCS mức I được cho là không đáng kể, ngoại trừ bệnh nhân liệt nửa người có ảnh hưởng khớp háng (phân độ dáng đi Winter Gage Hicks (WGH) type IV) – nghĩa là có các khiếm khuyết dáng đi bao gồm gập háng và gối, xoay trong háng và bàn chân ngựa.
Di lệch tăng tiến có thể dẫn đến:
Giám sát khớp háng được định nghĩa là “quá trình theo dõi và xác định các dấu chỉ báo sớm của tình trạng di lệch khớp háng”.
Giám sát khớp háng cho phép phát hiện sớm di lệch và chuyển trẻ đến cơ sở chuyên khoa để được lượng giá và xử lý kịp thời. Phát hiện sớm và can thiệp chỉnh hình đã chứng tỏ thay đổi kết quả điều trị, giảm số lần phẫu thuật cần thiết về sau.
Giám sát khớp háng cần được thực hiện một cách hệ thống, bao gồm các biện pháp:
Có nhiều mô hình khác nhau (Bắc Âu, Úc, Canada …)
Nói chung, giám sát khớp háng nên được bắt đầu từ lúc chẩn đoán/2 tuổi, nên thực hiện hàng năm nếu GMFCS IV- V cho đến khi khớp háng ổn định (10 tuổi hoặc lớn hơn).
Hình sau mô tả các thời điểm giám sát khớp háng theo American Academy for Cerebral Palsy and Developmental Medicine (AACPDM)
Khuyến cáo tần suất Giám sát khớp háng theo GMFCS (theo Wynter et al)
Cập nhật Hệ thống thang đo chức năng S Series lên phiên bản 2.0 và…
Phân tích chức năng điều hành theo hệ thống và gợi ý can thiệp cho…
Chế độ ăn Địa Trung Hải không đơn thuần là một “thực đơn”, mà là…
Hoạt động trị liệu giúp người bệnh: tiếp tục làm những việc có ý nghĩa…
Hiểu biết về MS đang dần hoàn thiện hơn nhờ: Chẩn đoán sớm và chính…
Rối loạn giấc ngủ không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối hay thiếu…