Xem lại: KHÁM KHỚP GỐI. PHẦN 1: CÁC BƯỚC CƠ BẢN
BẠN CÓ THỂ XEM CÁC VIDEO THĂM KHÁM TẠI: Y HỌC PHỤC HỒI
| Tên gọi khác: | Chùi (Sweep Test, Brush test, Stroke test, Wipe test) |
| Sử dụng để đánh giá | Tràn dịch nhẹ |
| Tư thế bệnh nhân: | Nằm ngửa với gối duỗi thẳng, thư giãn cơ đùi |
| Tư thế người khám: | Đứng cạnh bên của bệnh nhân |
| Tay cố định: | Đặt ở mặt trên ngoài khớp gối, ôm sát đùi |
| Tay thực hiện: | Đặt ở mặt trong và ôm sát dưới gối |
| Hoạt động thực hiện: | Tay phía trong vuốt sát mặt trong gối hướng lên trên gối, tay phía ngoài đùi vuốt sát hướng xuống đến phía ngoài xương bánh chè |
| Test dương tính: | một gợn sóng nhẹ ở mặt trong gối ngay dưới xương bánh chè trong vòng 1-2 giây |
Với chấn thương cấp tính, khuyến cáo sử dụng test Lachman và pivot shift vì test ngăn kéo ít nhạy trong giai đoạn cấp. Điều này là do 2 yếu tố: khó gập gối 90 độ trong giai đoạn cấp do sưng (tràn dịch và có thể tụ máu) và đau, và khả năng co thắt cơ hamstring cản trở sự dịch chuyển ra trước của xương chày trên xương bánh chè ở tư thế này, gây âm tính giả.
Test ngăn kéo ra trước (Anterior Drawer Test):
Phân loại tổn thương ACL:
Test Lachman
Phân loại tổn thương ACL:
Lưu ý rách PCL có thể gây test Lachman “giả” do bán trật ra sau.
Một số biến thể nếu đùi bệnh nhân to, tay người khám nhỏ:
Test dịch chuyển xoay bên (lateral pivot shift test):
Được sử dụng chủ yếu để đánh giá rách ACL, nhưng dương tính cũng chứng tỏ có thể tổn thương bao khớp sau ngoài, LCL, arcuate complex và dải chậu chày. Do đó nó cũng là test phù hợp để đánh giá mất vững xoay trước ngoài. Cần so sánh với bên lành.
| Tên gọi khác | MacIntosh test, |
| Sử dụng để đánh giá | Sự toàn vẹn của ACL, mất vững xoay trước ngoài, bao khớp sau ngoài |
| Tư thế bệnh nhân | Nằm ngửa với háng gập 30 độ, dạng 30 độ và xoay trong 20 độ |
| Tư thế người khám | Đứng cạnh gối của bệnh nhân |
| Tay cố định | Gốc bàn tay đặt sau xương chày, trên cơ bụng chân ngoài |
| Tay thực hiện | Nắm cổ chân và giữ cẳng chân xoay trong nhẹ |
| Hoạt động | Tác động một lực ép vẹo ngoài (valgus) lên gối trong khi giữ xương chày xoay trong và di chuyển gối từ duỗi sang gập. |
| Test dương tính | Nếu test dương tính và dải chậu chày nguyên vẹn, xương chày sẽ bán trật ra trước trên xương đùi khi đặt ở tư thế gối duỗi. Khi gập gối, có thể cảm thấy và đôi khi nghe thấy chỉnh trật xương chày trên xương đùi giữa góc gập gối 20-40 độ khi đường kéo của dải chậu chày thay đổi từ cơ duỗi gối (ở tư thế duỗi thẳng) sang cơ gập gối. |
| Độ nhạy/ Độ đặc hiệu: | 74%/ 95% |
Hughston (Jerk) test
Các test thường sử dụng cho toàn vẹn PCL là ngăn kéo sau, dấu hiệu võng ra sau và test co chủ động cơ tứ đầu đùi.
Bởi vì các cấu trúc khác hỗ trợ độ vững phía sau (như arcuate complex, ACL… ), nếu chỉ PCL bị tổn thương thì test có thể âm tính hoặc dương tính nhẹ.
Dấu hiệu võng ra sau (posterior sag sign)
Quan sát sự võng ra sau của xương chày khi đặt bệnh nhân nằm ngửa, gập gối 90 độ, gập háng 45 độ, bàn chân đặt trên bàn khám và thư giãn cơ tứ đầu đùi.
Một tư thế khác là giữ cẳng chân ở tư thế song song mặt giường, gối và háng gập 90 độ.(Dấu hiệu trọng lực hay là Dấu hiệu bậc cấp bánh chè, Gravity Sign, Tibial Step of Sign): Độ nhạy: 79%. Độ đặc hiệu: 100%.
Test ngăn kéo sau (posterior drawer test):
Test co cơ tứ đầu chủ động (quadriceps active test):
Được mô tả đầu tiên bởi Daniel và cộng sự vào năm 1988. Khi co cơ tứ đầu chủ động ở tư thế gối gập 90 độ, vector lực của cơ tứ đầu hướng nhẹ ra sau ở gối bình thường và không gây dịch chuyển ra trước của xương bánh chè. Tuy nhiên nếu rách PCL, xương chày nằm ở phía sau hơn so với xương chày và co cơ tứ đầu làm xương chày dịch chuyển ra trước.
| Tên gọi khác | Không |
| Sử dụng để đánh giá | Sự toàn vẹn của PCL |
| Tư thế bệnh nhân | Ngồi hoặc nằm ngửa với háng gập và gối gập 90 độ, bàn chân đặt lên bàn khám |
| Tư thế người khám | Đứng cạnh chân của bệnh nhân |
| Tay cố định | Đặt ở đùi để cố định háng |
| Tay thực hiện | Giữ ở cổ chân |
| Hoạt động thực hiện: | Hướng dẫn bệnh nhân trượt bàn chân xuống đẩy vào tay người khám nhưng không tạo duỗi gối (co cơ tứ đầu đẳng trường) |
| Test dương tính | Chỉnh ra trước của xương chày so với xương đùi do co cơ |
| Độ nhạy/Độ đặc hiệu | 54% – 98%/97% – 100% |
Test Lachman “đảo ngược” (“Reverse” Lachman test)
Đánh giá sự dịch chuyển ra sau quá mức của xương chày do tổn thương PCL.
Tư thế bệnh nhân nằm sấp, gối gập 30 độ. Một tay người khám cố định xương đùi trong khi tay kia đẩy xương chày ra sau.
MCL hạn chế dạng của xương chày trên xương đùi và cũng trợ giúp hạn chế duỗi và xoay ngoài của xương chày. Với tổn thương với lực ép vẹo ngoài nặng, có thể tổn thương cả ACL và sụn chêm trong (tam chứng bất hạnh).
Test ép dạng/vẹo ngoài (Valgus stress test):
Phân độ tổn thương MCL:
Nếu test gây đau hoặc hở khớp ở tư thế duỗi thì tổn thương nặng hơn khi test dương tính ở tư thế gối gập một phần.
Với gối duỗi, cấu trúc chính bị ép là MCL và bao khớp sau trong. Các cấu trúc khác cũng bị ép, như ACL, PCL, cơ tứ đầu phần trong và cơ bán màng. Khi gối gấp nhẹ, cấu trúc bị ép chính là MCL vì bao khớp bị chùng, nhưng cũng có thể ép bao khớp phía trong, và các cấu trúc khác bao gồm ACL, PCL.
Test ép khép/vẹo trong (Varus stress test):
Phân độ tổn thương LCL:
Tổn thương ít gặp nhất trong các dây chằng khớp gối. Dấu hiệu dương tính với gối duỗi chứng tỏ mất vững nặng mặt ngoài gối.
Khi gối duỗi, các cấu trúc chính bị ép căng là LCL, bao khớp sau ngoài và các cấu trúc khác (ACL, PCL, gân cơ nhị đầu đùi, dải chậu chày, cơ bụng chân phần ngoài). Khi gối gấp nhẹ, bao khớp lỏng hơn, cấu trúc chính bị ép căng là LCL.
Khi tổn thương nhiều hơn một dây chằng, ngoài dây chằng chính, các cấu trúc khác có thể bị ảnh hưởng như bao khớp, dây chằng khác, chỗ bám của cơ…. Khi đó, có thể gây mất vững ở nhiều hướng hoặc mặt phẳng. Mất vững xoay có thể trước trong, trước ngoài, sau ngoài hoặc sau trong.
Loại thường gặp nhất là mất vững xoay trước trong, khi mâm chày trong bán trật ra trước và xoay ngoài trên xương đùi. Điều này xảy ra khi ACL, MCL, bao khớp sau trong, và có thể là sụn chêm trong bị rách. Cơ chế điển hình cho tổn thương này là xoay ngoài của xương chày với lực ép vẹo ngoài.
Mất vững trước ngoài do tổn thương ACL, LCL, bao khớp sau ngoài. Đặc trưng là bán trật của mâm chày ngoài với dịch chuyển ra trước và xoay trong của xương chày trên xương đùi.
Test Slocum
Xem thêm test Pivot Shift và Hugston cho mất vững xoay trước ngoài.
Các test đánh giá mất vững góc sau ngoài (PLC) (Posterolateral Corner Instability) như Dial test, External Rotation Thigh Foot Angle Test, External Rotation Recurvatum Test, Posterolateral Drawer Test, Reversed Pivot Shift Test) không được trình bày ở bài viết.
Rách sụn chêm trong hoặc ngoài thường xảy ra khi xương đùi ép và xoay trên xương chày cố định. Bởi vì sụn chêm trong gắn rộng hơn lên mâm chày và gắn với MCL và cơ bán màng, nó ít di động hơn và thường bị tổn thương hơn.
Đau khi ấn vào khe khớp (ở tư thế gập gối), là test nhạy nhưng ít đặc hiệu.
Đánh giá độ căng dải chậu chày
Xem KHÁM KHỚP HÁNG. PHẦN 2: ĐO LƯỜNG VÀ CÁC TEST ĐẶC BIỆT
Góc gập gối khi háng gập 90 độ giúp đánh giá độ dài cơ hamstring (cơ hai khớp). Căng cơ hamstring khi gối gập trên 20 độ. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Youdas và cộng sự trên 214 nam và nữ tuổi 20-79 báo cáo rằng PROM gập gối trung bình ở nữ và nam lần lượt là 28° và 39°.
(cành cố định: đến điểm giữa giữa gai chậu trước trên (ASIS) và mấu chuyển lớn
Khả năng đứng dậy, đứng 1 và hai chân, đi, lên xuống bậc cấp, ngồi xổm, chạy, nhảy, đá …
XEM VIDEO:
Rối loạn giấc ngủ không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối hay thiếu…
Trong thực hành vật lý trị liệu, chúng ta thường nhận thấy một nghịch lý…
Đau mạn tính không chỉ nằm ở chỗ tổn thương. Đó là trải nghiệm phức…
Giới thiệu S-Knee, ứng dụng theo dõi chức năng khớp gối tự lượng giá
Về cơ bản, khớp vai của bạn giống như một quả bóng golf đặt trên…
3 bước cơ bản: Nhìn, Sờ, Vận động Đo lường và các Nghiệm pháp đặc…