Tên tiếng Anh: Thoracic Compression Fracture
Từ đồng nghĩa:
Mã ICD-10:
Lưu ý: Bài viết chỉ trình bày loại gãy xẹp cột sống ngực thường gặp, vững và không kèm theo tổn thương tuỷ sống. Các loại gãy xương mất vững do chấn thương (như gãy nhiều mảnh, gãy xương- trật khớp …) liên quan đến tổn thương tuỷ sống sẽ được trình bày riêng.
Xem thêm: GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG THÂN MÌNH. PHẦN 1: XƯƠNG VÀ KHỚP
Gãy xẹp (hình chêm) cột sống ngực (đúng hơn là gãy do nén, compression fracture) là loại gãy gãy gây ra do lực nén ép thẳng trục hoặc lực gập. Đây là một gãy xương vững và hiếm khi bệnh nhân bị các tổn thương thần kinh.
XEM THÊM: BỆNH LOÃNG XƯƠNG
Cần hỏi kỹ bệnh sử, cơ chế chấn thương nếu có và các xử trí ban đầu.
Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau ở đốt sống ngực bị gãy. Đau có thể rất nhiều, đau chói, tăng lên khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau thường kéo dài 2 đến 3 tuần và sau đó giảm dần trong 6 đến 8 tuần, nhưng có thể đau nhẹ kéo dài trong nhiều tháng. Tuy nhiên, trong gãy xương cấp tính liên quan đến loãng xương, nhiều bệnh nhân chỉ đau rất nhẹ hoặc khó xác định vị trí.
Phát hiện lâm sàng chính khi thăm khám là đau khi sờ hoặc gõ lên vùng đốt sống ngực bị ảnh hưởng.
Đau cũng xuất hiện hoặc tăng lên khi vận động cột sống.
Những bệnh nhân đã bị nhiều lần gãy xẹp trước đó có thể bị biến dạng gù – vẹo cột sống, giảm chiều cao và đụng chạm của các xương sườn dưới lên mào chậu (hội chứng chậu sườn, iliocostal syndrome).
Cần đánh giá thần kinh nhằm xác định đau kiểu rễ, các bất thường về vận động, cảm giác và phản xạ dưới mức tổn thương (bao gồm cả chức năng bàng quang và trực tràng).
Một điều quan trọng nữa là đánh giá độ vững của dáng đi. Các khiếm khuyết do gãy xương và/hoặc tổn thương thần kinh kèm theo có thể góp phần gây rối loạn chức năng dáng đi và gây nguy cơ té ngã.
Những bệnh nhân đau nhiều do gãy xẹp cấp tính có thể bị hạn chế chức năng đáng kể. Bệnh nhân có thể bị mất khả năng vận động, giảm độc lập trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, mất ngủ, lo lắng và cần phải nhập viện điều trị. Khi tình trạng đau giảm, các hoạt động chức năng và sự tham gia dần dần được cải thiện.
Xem thêm: KHÁM CỘT SỐNG NGỰC
Các xét nghiệm được chỉ định khi thích hợp nhằm xác định nguyên nhân.
Xử trí ban đầu gồm nghỉ ngơi tương đối tại giường và điều chỉnh hoạt động. Có thể bổ sung thêm lớp phủ nệm như nệm trứng (egg crate) để tạo sự thoải mái. Chỉ nên nghỉ ngơi tại giường trong vài ngày để ngăn ngừa các biến chứng do bất động (như tắc mạch chi, loét ép, giảm cơ lực và sức bền tim phổi).
Tránh vận động cột sống, đặc biệt là gấp (cúi người) bằng mang nẹp ngực- thắt lưng cùng và hướng dẫn người bệnh dịch chuyển đúng cách (như khi lăn trên giường cần phải lăn đồng bộ thân mình như khúc gỗ).
Dụng cụ chỉnh hình cột sống có thể là loại được làm sẵn ở thị trường hoặc đúc riêng nếu cần mức độ làm vững lớn hơn. Thời gian mang nẹp thường từ 8-12 tuần.
Sử dụng các thuốc kháng viêm, giảm đau, giãn cơ để điều trị triệu chứng:
Hầu hết các trường hợp gãy xẹp cột sống ngực sẽ lành và cải thiện triệu chứng sau 4 đến 6 tuần.
Mục đích làm giảm đau, cải thiện tư thế, phòng ngừa biến dạng (gù) cột sống và gãy xương tái phát, hỗ trợ và cải thiện chức năng dịch chuyển, di chuyển, sinh hoạt.
Các phương thức giảm đau, chẳng hạn như nhiệt nóng trị liệu hoặc nhiệt lạnh, điện xung giảm đau (dòng TENS …)
Giai đoạn đầu cần hướng bệnh nhân tư thế đúng khi nằm, ngồi, đúng; cách dịch chuyển và di chuyển; sử dụng các dụng cụ trợ giúp di chuyển (như khung đi) để giảm tải lên cột sống và đảm bảo an toàn khi đi lại.
Khi tình trạng cột sống ổn định, cần hướng dẫn các bài tập/tư thế duỗi (ưỡn) cột sống, tránh các tư thế gập cột sống; tập mạnh các cơ duỗi thân, các cơ cơ hai chân; các bài tập thở sâu.
Các bài tập chịu trọng lượng để tăng cường sức khỏe xương, giữ thăng bằng và phòng ngã cũng rất quan trọng. Khuyến cáo người bệnh chọn giày dép phù hợp, êm chân và chống trơn trượt.
XEM THÊM: CÁC BÀI TẬP LÀM VỮNG THÂN
Có thể giúp bệnh nhân thực hiện các hoạt động sống hàng ngày, cung cấp các dụng cụ thích ứng và thay đổi môi trường phù hợp, phòng ngã.
Có thể sử dụng nẹp chống gù ở giai đoạn sau.
Các thủ thuật xâm lấn nói chung là không cần thiết. Một số bệnh nhân gãy xương cấp hoặc bán cấp không đáp ứng với điều trị bảo tồn có thể được điều trị bằng tạo hình đốt sống qua da (vertebroplasty hay là kyphoplasty) bằng cách tiêm “xi măng” xương (polymethyl methacrylate) để giảm đau, làm vững đốt sống và cải thiện chức năng.
Các kỹ thuật này có thể làm giảm biến dạng ở các thân đốt sống được bơm, nhưng không làm giảm và thậm chí có thể làm tăng nguy cơ gãy xương ở các đốt sống lân cận. Các nguy cơ khác bao gồm gãy xương sườn, rò xi măng, phù phổi cấp hoặc nhồi máu cơ tim.
Phẫu thuật hiếm khi cần thiết. Phẫu thuật cố định cột sống có thể được cân nhắc ở những bệnh nhân vẫn tiếp tục đau dữ dội sau khi gãy xẹp do xương không lành, ở những bệnh nhân mất vững cột sống, hoặc có các biến chứng thần kinh.
ESSENTIALS OF PHYSICAL MEDICINE AND REHABILITATION: MUSCULOSKELETAL DISORDERS, PAIN, AND REHABILITATION, FOURTH EDITION. Elsevier, Inc. 2019
Rối loạn giấc ngủ không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối hay thiếu…
Trong thực hành vật lý trị liệu, chúng ta thường nhận thấy một nghịch lý…
Đau mạn tính không chỉ nằm ở chỗ tổn thương. Đó là trải nghiệm phức…
Giới thiệu S-Knee, ứng dụng theo dõi chức năng khớp gối tự lượng giá
Về cơ bản, khớp vai của bạn giống như một quả bóng golf đặt trên…
3 bước cơ bản: Nhìn, Sờ, Vận động Đo lường và các Nghiệm pháp đặc…