XEM THÊM: GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG PHỨC HỢP VAI. CƠ VÀ HOẠT ĐỘNG CƠ
XEM THÊM: ĐAU VAI. PHẦN 1. NHẮC LẠI GIẢI PHẪU PHỨC HỢP VAI
XEM THÊM: HỘI CHỨNG GÂN CƠ CHÓP XOAY. PHẦN 1: SINH LÝ BỆNH
XEM THÊM: ĐAU VAI. PHẦN 2. THĂM KHÁM KHỚP VAI
XEM THÊM: KHÁM KHỚP VAI. PHẦN 2: CÁC NGHIỆM PHÁP ĐẶC BIỆT
Bệnh lý chóp xoay (Rotator cuff) với các triệu chứng đụng chạm của gân cơ trên gai (supraspinatus tendon impingement) và liên quan đến cơ dưới vai (subscapularis).
Cung đau khi dạng (Painful arc on abduction) với tiếng lục cục, đau và yếu khi co cơ dưới vai và trên gai có kháng trở.
XEM THÊM: ĐAU VAI. PHẦN 3: CA LÂM SÀNG
Trong đau vai, các bệnh lý chóp xoay có thể do mối liên hệ giữa sự lỏng lẻo của mô mềm (ví dụ như dây chằng) dẫn đến sự lỏng lẻo (laxity) khớp ổ chảo cánh tay, sự đụng chạm (impingement) (ví dụ như do viêm túi thanh dịch hoặc gai xương) dẫn đến chèn ép gân cơ và tổn thương chóp xoay ( Allingham & McConnell 2003). Do đó, việc điều trị có khả năng hiệu quả hơn khi xem xét tất cả các yếu tố có thể gây ra lỏng lẻo, đụng chạm hoặc tổn thương chóp xoay. Chúng bao gồm:
Cũng như với đau lưng, mỗi yếu tố có thể góp phần cần được đánh giá và đưa vào kế hoạch điều trị khi thích hợp (Kent và cộng sự 2005). Điều này có nghĩa là thay vì gộp các nhóm triệu chứng lại với nhau (ví dụ như các triệu chứng chóp xoay), nên chia nhỏ và nhận biết các yếu tố gây ra lỏng khớp, đụng chạm và / hoặc tổn thương và đưa ra phương pháp điều trị khi xét thấy phù hợp. Một số kết luận cho đến nay là:
Allingham và McConnell (2003) đã mô tả các thành phần khác nhau của một chương trình phục hồi chức năng có thể được cá nhân hóa để giải quyết nhiều yếu tố đa dạng có thể liên quan đến bệnh nguyên của đau vai.
XEM THÊM: ĐAU VAI. PHẦN 4. ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
Các vấn đề thường gặp ở vai có thể gây đau là căng rách hoặc bệnh lý gân cơ chóp xoay (cơ trên gai, cơ dưới vai, cơ dưới gai, và cơ tròn bé), rách sụn viền, mất vững hoặc trật khớp ổ chảo cánh tay, tổn thương dây chằng cùng vai đòn và/hoặc gãy đầu xa xương đòn, căng hoặc rách cơ ngực lớn hoặc đầu dài gân cơ nhị đầu. Các nguyên nhân phổ biến khác của đau vai có thể là do đau lan từ cột sống cổ hoặc ngực, hoặc bệnh lý của đám rối thần kinh cánh tay.
Các nguyên nhân gây đau vai ít phổ biến hơn là chèn ép dây thần kinh trên vai hoặc ngực dài. Các vấn đề không thể bỏ qua bao gồm hội chứng lối ra ngực/thoracic outlet syndrome (ví dụ như xương sườn cổ), các vấn đề về tuần hoàn (ví dụ như huyết khối tĩnh mạch nách), khối u xương hoặc đau lan từ cơ hoành hoặc các nội tạng (như tim, túi mật, lách, đỉnh phổi hoặc tá tràng) (Brukner và cộng sự 2001e).
Mặc dù trong y học thể thao ít gặp viêm dính bao khớp vai, bệnh gân cơ canxi hóa hoặc rách một trong các cơ của chóp xoay, hoặc gãy đầu trên xương cánh tay, gãy mỏm quạ hoặc xương bả vai hơn (Brukner và cộng sự 2001e), những tình trạng này có thể phổ biến hơn ở người trung niên và lớn tuổi.
Như đã giải thích trong câu trả lời thứ ba, khả năng vận động của ngực (hoặc đúng hơn là sự suy giảm) và độ ổn định của xương bả vai kém có thể gây ra sự đụng chạm mô và gây ra các vấn đề ở chóp xoay. Vì hô hấp kém trong bệnh hen có thể liên quan đến rối loạn chức năng ngực, cần bao gồm các bài tập thở và di động ngực nếu cần thiết.
Mặc dù thay đổi nhiệm vụ tại nơi làm việc có thể làm giảm sự đụng chạm cho đến khi độ ổn định và vận động của xương bả vai được cải thiện, nhưng không phải lúc nào cũng người sử dụng lao động cũng chấp nhận điều này. Giáo dục bệnh nhân, theo dõi cẩn thận và liên lạc với người chủ lao động có thể nâng cao kết quả của quá trình phục hồi chức năng.
Sử dụng các thang đo lường kết quả như Chỉ số Chức năng Chi trên/Upper Extremity Functional Index) (Stratford và cộng sự 2001) hoặc Bảng câu hỏi Giảm chức năng Croft/Croft Disability Questionnaire (Croft và cộng sự 1994) không đo lường mức độ đau và giảm chức năng liên quan đến các hoạt động đưa tay lên cao như SPADI. Mặc dù so sánh cắt ngang các bảng câu hỏi về vai khác nhau có thể cho thấy giá trị tổng thể có thể so sánh được và khả năng chấp nhận của bệnh nhân, nhưng điều quan trọng là phải bao gồm các hoạt động đưa tay lên cao vì công việc đưa tay lên cao này là một khía cạnh quan trọng trong công việc hàng ngày của bệnh nhân này. Một lợi ích nữa của SPADI là thang đo này nhạy với sự thay đổi, thực hiện nhanh, và điểm số không có khả năng thay đổi ở các đối tượng ổn định (Paul và cộng sự 2004).
Tiêm corticosteroid có thể có ích trong giảm các triệu chứng (Green và cộng sự 2003). Ngoài ra, siêu âm có thể giúp đánh giá mức độ thoái hóa của gân cơ cũng như phát hiện sự hiện diện của viêm túi thanh dịch, trong khi chụp X-quang có thể loại trừ viêm gân canxi hóa hoặc những thay đổi thoái hóa khớp của khớp ổ chảo cánh tay. MRI có thể loại trừ các vấn đề ở khớp ổ chảo cánh tay (ví dụ như rách sụn viền).
MinhdatRehab, Lược theo:
Clinical case studies in physiotherapy. Lauren Jean Guthrie. 2009, Elsevier Limited.
Rối loạn giấc ngủ không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối hay thiếu…
Trong thực hành vật lý trị liệu, chúng ta thường nhận thấy một nghịch lý…
Đau mạn tính không chỉ nằm ở chỗ tổn thương. Đó là trải nghiệm phức…
Giới thiệu S-Knee, ứng dụng theo dõi chức năng khớp gối tự lượng giá
Về cơ bản, khớp vai của bạn giống như một quả bóng golf đặt trên…
3 bước cơ bản: Nhìn, Sờ, Vận động Đo lường và các Nghiệm pháp đặc…
View Comments
Xin chào ạ, em đang đi thực tập và cũng gặp một ca bệnh có triệu chứng tương tự, nhưng bệnh nhân chỉ đau khi cử động đưa tay ra sau lưng, với tay ra phía trước và đau trong hoạt động mặc quần áo. Sau khi test và kết quả cls thì bệnh nhân có bệnh lý cơ chóp xoay, hc chạm gân cơ trên gai và yếu cơ dưới vai. Em không biết hoạt động với tay tới trước lấy đồ đau là nguyên nhân là yếu cơ răng cưa trước hay nguyên nhân nào khác không ạ? Em xin cảm ơn.
Đau vai cơ bản là khám lâm sàng, lộ trừ các nguyên nhân làm đến (như cổ), rồi mới xác định tổn thương cấu trúc nào tại vai (có thể là nguyên nhân phối hợp). Cận lâm sàng nhiều lúc gây nhiễu chẩn đoán (như tưởng là bệnh chóp xoay vì có hình ảnh mri, nhưng ở người bình thường vẫn có thoái hóa mà ko đau).
Mã chẩn đoán là m75. Em xem m75 có những cái nào thì loại trừ. Trước hết là viêm dính bao khớp (hạn chế tầm vận động và đau ). Sau đó là nhóm đụng chạm, gân cơ. Tiếp nữa là sụn viền, thoái hóa.
Đưa ra trước đau là do căng đằng sau hoặc chạm đằng trước, và ngược lại. Nếu đau mọi hướng nghĩ đến viêm dính bao khớp nhiêu hơn.
Em xin cảm ơn rất nhiều ạ.
Ko có chi. Đặt câu hỏi và tìm câu trả lời là điều hết sức quan trọng của việc học. Chúc em luôn cảm thấy hứng thú với ngành mình ưa thích.