Tên tiếng Anh: Radial nerve
Dây thần kinh quay là dây thần kinh ngoại biên chính của chi trên.
Trong bài viết này, chúng ta sẽ xem xét giải phẫu của dây thần kinh quay – đường đi cũng như các chức năng vận động và cảm giác của nó. Chúng ta cũng sẽ xem xét hậu quả lâm sàng của tổn thương dây thần kinh quay.
XEM THÊM: GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG HỆ THẦN KINH: ĐÁM RỐI CÁNH TAY
Dây thần kinh quay là sự tiếp nối tận cùng của bó sau đám rối cánh tay. Do đó nó chứa các sợi từ rễ thần kinh C5 – T1.
Dây thần kinh phát sinh ở vùng nách, nằm ở phía sau động mạch nách. Nó đi ra khỏi nách ở phía dưới, ra sau (qua khoảng tam giác cánh tay tam đầu) và phân các nhánh đến các đầu dài và đầu ngoài của cơ tam đầu cánh tay.
Ghi chú: Khoảng tam giác (triangular interval) có bờ trong là đầu dài cơ tam đầu, bờ trên là cơ tròn lớn, và bờ ngoài là xương cánh tay.
Sau đó, dây thần kinh quay đi xuống cánh tay, chếch xuống dưới và ra ngoài, trong một đường rãnh nông trên mặt sau xương cánh tay, được gọi là rãnh thần kinh quay.
Khi đi xuống, dây thần kinh phân một nhánh cho đầu trong của cơ tam đầu cánh tay. Trong hầu hết đường đi của nó trong cánh tay, dây thần kinh quay đi kèm với nhánh sâu của động mạch cánh tay (động mạch cánh tay sâu).
Đến mặt ngoài cánh tay, dây thần kinh quay chọc qua vách gian cơ ngoài để ra trước. Sau đó, thần kinh quay đi xuống qua mỏm trên lồi cầu ngoài xương cánh tay, chia thành hai nhánh tận (nhánh nông và nhánh sâu), tiếp tục qua hố trụ và đi xuống cẳng tay và bàn tay.
Dây thần kinh quay chi phối các cơ nằm ở cánh tay sau và cẳng tay sau.
Lưu ý: Khi nhánh sâu của dây thần kinh quay xuyên qua cơ ngửa của cẳng tay, nó được gọi là dây thần kinh gian cốt sau (posterior interosseous nerve, PIN) trong phần còn lại của đường đi.
Ở 30-50% người bình thường có một dải sợi ở vòng cung cơ ngửa (vòm Frohse) ở đầu gần của cơ ngửa. Dây thần kinh gian cốt sau xuất hiện từ cơ ngửa và có thể bị kẹt ở lối ra cơ ngửa khi nó tiếp giáp với vòm cung này hoặc bên trong cơ ngửa.
Có bốn nhánh của dây thần kinh quay phân bố thần kinh cho da của chi trên. Ba trong các nhánh này phát sinh ở cẳng tay:
Tổn thương dây thần kinh quay có thể được phân loại thành bốn nhóm – tùy thuộc vào vị trí xảy ra tổn thương (và do đó thành phần nào của dây thần kinh bị ảnh hưởng).
Dây thần kinh quay có thể bị tổn thương ở vùng nách do trật khớp vai hoặc gãy đầu trên xương cánh tay. Đôi khi, nó bị tổn thương do đè ép quá mức lên dây thần kinh ở nách (ví dụ như do nạng nách quá cao).
Dây thần kinh quay được giữ chặt trong rãnh xoắn của xương cánh tay. Vì vậy, nó dễ bị tổn thương khi bị gãy thân xương cánh tay.
Cơ tam đầu cánh tay có thể bị yếu đi nhưng không bị liệt (các nhánh của đầu dài và đầu ngoài của cơ tam đầu phát sinh phía trên rãnh thần kinh quay).
Các cơ của cẳng tay sau bị ảnh hưởng. Bệnh nhân không thể duỗi cổ tay và các ngón tay. Gấp cổ tay không có lực chống lại, gây dấu hiệu cổ tay rũ (wrist-drop).
Các nhánh da đến cánh tay và cẳng tay đã phân nhánh. Nhánh nông của dây thần kinh quay sẽ bị tổn thương, dẫn đến mất cảm giác ở mặt sau của ba ngón rưỡi ngoài và vùng liên quan ở mu bàn tay.
Đường hầm thần kinh quay là vùng nằm giữa khớp cánh tay – quay và bờ trên của cơ ngửa, dài khoảng 5 cm, gần với nguyên uỷ các nhánh của dây thần kinh quay ở cẳng tay.
Hội chứng chèn ép này ít gặp, nguyên nhân thường do các vận động sấp ngửa cẳng tay lập lại.
Biểu hiện mỏi, đau nhức ở đầu trên cẳng tay khi hoạt động (do ảnh hưởng đến nhánh nông). Ít khi gặp yếu cơ ngửa hoặc duỗi cổ bàn tay.
Có hai nhánh tận của dây thần kinh quay nằm ở cẳng tay. Cơ chế chấn thương điển hình và ảnh hưởng của tổn thương của chúng khác nhau:
| Nhánh nông(Hội chứng Wartenberg) | Nhánh sâu (tổn thương PIN) | |
| Cơ chế | Đâm xuyên hoặc rách cẳng tay, đè ép ở cổ tay do vòng bít | Chấn thương gây gãy chỏm quay hoặc trật xương quay ra sau. Viêm, u. |
| Chức năng vận động | Không có | Phần lớn các cơ ở cẳng tay sau bị ảnh hưởng. Không bị rũ cổ tay do cơ duỗi cổ tay quay dài không bị ảnh hưởng, và vẫn duy trì được một phần duỗi cổ tay |
| Chức năng cảm giác | Mất/giảm cảm giác ảnh hưởng đến 3 ngón rưỡi ngoài và vùng liên quan ở mu bàn tay. | Không có |
XEM THÊM: KHÁM CÁC DÂY THẦN KINH CHI TRÊN
THAM KHẢO CHÍNH: Teachmeanatomy, và các tài liệu khác
Rối loạn giấc ngủ không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối hay thiếu…
Trong thực hành vật lý trị liệu, chúng ta thường nhận thấy một nghịch lý…
Đau mạn tính không chỉ nằm ở chỗ tổn thương. Đó là trải nghiệm phức…
Giới thiệu S-Knee, ứng dụng theo dõi chức năng khớp gối tự lượng giá
Về cơ bản, khớp vai của bạn giống như một quả bóng golf đặt trên…
3 bước cơ bản: Nhìn, Sờ, Vận động Đo lường và các Nghiệm pháp đặc…
View Comments
thưa thầy, cho em hỏi có bài riêng về giải phẫu thần kinh trụ và thần kinh giữa không ạ?
A, vậy mà ad tưởng đã viết rồi. Vậy là còn thiếu và ad sẽ bổ sung trong tương lai gần. Thank đã đọc.
Em cảm ơn thầy ạ, em đã đọc bài thần kinh trụ thầy vừa đăng sáng nay rồi ạ. Còn thần kinh giữa nữa là đủ đám rối thần kinh cánh tay. Các bài giảng của thầy rất chi tiết và dễ hiểu ạ, tụi em không học ở y Huế, nhưng được học từ trang PHCNonline của thầy rất nhiều ạ.
cảm ơn thầy bài viết rất hữu ích